VẬN DỤNG TƯ DUY PHẢN BIỆN TRONG TÌM KIỂM TRI THỨC

Bạn có thường xuyên đặt câu hỏi kiểm nghiệm tính đúng sai / hợp lí hoặc bất hợp lí những gì mình đã nhận thức? những gì mình đang tin tưởng? Nếu có, xin được chúc mừng bạn vì bạn là người có năng lực tư duy phản biện. Nếu chưa, cũng không sao, bạn có thể học. Tư duy phản biện hay còn gọi là tư duy phê phán (critical thinking) đều có trong mỗi người tùy mức độ khác nhau. Chỉ là bạn có sẵn lòng kích hoạt nó hay không thôi. Tư duy phản biện manh nha như một khoa học về tư duy từ cách đây hơn 2000 năm mà triết gia Socrates (Hi Lạp) được xem người khởi xướng. Hiện nay, tư duy phản biện được dạy trong nhà trường của nhiều nước trên thế giới như một môn khoa học công cụ.



Tư duy phản biện là gì?
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa. Tuy ở một số tiểu tiết có thể khác nhau về quan điểm nhưng về đại thể, các định nghĩa đều thống nhất ở chỗ, đó là: nghệ thuật đặt câu hỏi để kiểm nghiệm tính đúng sai, hợp lí/bất hợp lí của vấn đề; nhìn vấn đề dưới nhiều góc độ; từ đó tổng hợp, lựa chọn những giải pháp tối ưu nhất để giải quyết triệt để vấn đề. Ở đây, chúng tôi đặc biệt chú ý đến định nghĩa của Richard Paul và Linda Elder - những nhà nghiên cứu chuyên sâu, có uy tín về khoa học tư duy: “Tư duy phản biện (critical thinking) là nghệ thuật phân tích và đánh giá tư duy với định hướng cải thiện nó” [1].
Tư duy phản biện được dùng trong tranh luận, bàn luận, đánh giá về một vấn đề (đương nhiên không phải cứ tranh luận là phản biện!). Có thể đó là sự tranh luận, chất vấn với chính mình (phản tư); cũng có thể là sự tranh biện với người khác. Tư duy phản biện không bắt đầu từ quá trình tiếp nhận sự vật, hiện tượng mà thường bắt nguồn từ những ý kiến, những nhận thức, những giả thuyết khoa học, những tập quán, tín điều,... đã có.
Tư duy phản biện có ý nghĩa như thế nào?
Tư duy phản biện là phương thức kiểm nghiệm lại những gì đã nhận thức. Có những niềm tin từng gắn với bạn từ thuở ấu thơ, có những thói quen hàng ngày diễn ra trong cuộc sống của bạn, có những nếp nghĩ hằng giờ vận hành trong trí não bạn và bạn luôn coi đó là chân lí, là duy nhất đúng. Cách nhìn nhận cuộc sống, suy nghĩ, hành động của bạn đều chịu ảnh hưởng của những niềm tin, những thói quen, những nếp nghĩ ấy.
Tuy nhiên, khi va chạm với những phức tạp của cuộc sống, bạn mới dần tỉnh táo nhận ra rằng, rất nhiều điều từng tin tưởng ấy đã không phù hợp hoặc sai lầm. Trong cuộc sống, có vô vàn sự ngộ nhận như vậy. Tư duy phản biện sẽ giúp bạn phát hiện những ngộ nhận, vượt qua những nhận thức chủ quan, cảm tính, làm sáng tỏ những gì còn mơ hồ. Tư duy phản biện không chấp nhận lối ngụy biện kiểu “Câu ấy luôn đúng. Vì sao? Vì Socrat nói thế”, không chấp nhận lối diễn đạt mập mờ. Trong thời đại công nghệ thông tin, mỗi ngày bạn được tiếp xúc với vô số thông tin (từ biển quảng cáo, báo chí, mạng xã hội, dư luận,…), nếu thiếu tư duy phản biện thì hoặc bạn là nạn nhân của những sự lừa mị, hoặc bạn hoang mang vì không biết lựa chọn tin theo thông tin nào. Tư duy phản biện là một trong những công cụ nhận thức (tuy không phải là chìa khóa vạn năng) sẽ giúp bạn cách lựa chọn, kiểm nghiệm những thông tin phù hợp nhất với mình.
Rộng hơn nữa, phản biện tạo ra sự phản tỉnh. Đó là trạng thái chuyển từ sự u mê sang nhận thức đúng sự thật. Có những sự phản tỉnh thay đổi nhận thức của cả một thế hệ, chuyển biến tư tưởng của cả một thời đại. Trong nhiều trường hợp, sự phản biện làm sụp đổ, lung lay cả một hệ thống tư tưởng, nhận thức. Nhà văn Lỗ Tấn của Trung Quốc là đại diện điển hình của sự phản tỉnh. Đầu thế kỉ XX, khi văn hóa Trung Hoa có sự tiếp xúc và va chạm với phương Tây trên hầu hết mọi lĩnh vực, Lỗ Tấn là một trong những người nhận ra và là một trong số rất ít người viết nhiều tác phẩm giải phẫu căn bệnh tinh thần của người Trung Quốc. Trên tinh thần phản biện, ông nhìn ra tính man rợ mù quáng của văn hóa Trung Hoa thời ấy. Đó là sự tự mãn trong yếu hèn, sự trì trệ trong u mê, sự xa lạ với tư duy khoa học hiện đại. Lỗ Tấn vĩ đại trên nhiều phương diện nhưng từ góc độ tư duy mà đánh giá, ông vĩ đại ở tinh thần phản biện. Ông đã dám đặt những câu hỏi đi ngược lại với những niềm tin có từ hàng ngàn đời của dân tộc Trung Hoa. Lỗ Tấn đã dám tách mình khỏi đám đông và ông đã đúng vì đã góp phần kiến lập những hệ giá trị mới trong đời sống tinh thần của người Trung Quốc hiện đại. Sau này, nhà văn Khương Nhung viết cuốn Tô tem sói, vẫn trên tinh thần phản biện của Lỗ Tấn cho rằng, xã hội Trung Quốc từ sau Tần Hán, Nho học thống trị không có sự phản biện nên lịch sử chỉ quẩn quanh trong tình trạng nông canh trì trệ “phân rồi lại hợp hợp lâu rồi lại phân”. Chính tư duy nông canh đã tạo tiền đề cho tư tưởng phục tùng, an phận. Con người tin và hành động theo những quy phạm được vạch sẵn từ hàng trăm, hàng nghìn năm trước. Sự trì trệ ấy luôn có nguy cơ làm cho tinh thần dân tộc Hoa Hạ trở nên yếu hèn, bạc nhược nếu không có sự tiếp máu liên tục của văn hóa du mục phóng khoáng, chuộng tự do từ các dân tộc bên ngoài Vạn Lý Trường Thành.
Tư duy phản biện giúp cho bộ não của bạn không bị lệ thuộc. Trong thực tế, tư duy con người bị lệ thuộc, bị cầm tù bởi rất nhiều giới hạn. Đặc biệt là những giới hạn được định hình từ truyền thống và tâm lí đám đông.
Truyền thống tạo nên bản sắc nhưng nếu không biết chắt lọc những giá trị tinh túy thì truyền thống cũng dễ biến thành những hủ tục, những đức tin mù quáng. Ở nước ta (cũng như một số nước Á Đông khác) ngay từ những ngày đầu lập quốc, văn hóa Hán đã ảnh hưởng và chi phối nhiều mặt. Không ai phủ nhận được những công lao to lớn của Nho giáo trong lịch sử Việt Nam nhưng rõ ràng nền giáo dục nơi cửa Khổng sân Trình đã tạo ra những bộ “đồng phục tư tưởng” cho biết bao lớp sĩ tử. Trong hàng ngàn năm ở “chốn nước non lặng lẽ này”, người dạy và người học đều lấy sách Thánh hiền làm la bàn tư tưởng. Tâm lí sùng kính thánh nhân đã tạo nên lối dạy truyền thụ. Quy trình dạy từ học thuộc lòng “nhân chi sơ tính bản thiện” rồi mới giảng đạo lí, nghĩa lí. Tâm lí sùng kính đã tạo nên lối học tập dùi mài kinh sử và làm theo kinh sách. Đến ngay bậc hiền giả như La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp cũng đặt vấn đề “học rộng rồi tóm lược cho gọn, theo điều học mà làm”. Giáo dục thời trung đại vì thế trở thành nền giáo dục vo tròn con người. Tiêu chí để đánh giá hiền nhân là sự vâng phục thánh nhân. Nếu nghi ngờ, cãi lại thì không thành tặc thần cũng bị coi là nghịch tử. Mỗi sự phát ngôn trái với những huấn thị của Khổng, Mạnh là tà thuyết, tà đạo; mỗi ý nghĩ vượt khỏi khuôn thước đều có thể bị coi là tà tâm. Ngày nay, nội dung giáo dục không còn bó hẹp trong Nho học nữa nhưng tâm lí vâng phục một cách an phận vẫn bám trụ dai dẳng. Bạn đã bao giờ tin cậy vào những thông tin từ sách, báo, mạng Internet một cách vô điều kiện chưa? Bạn có trung thành và tin tưởng tuyệt đối vào những tri thức sách giáo khoa? Nếu vậy, bạn vẫn là người bị lệ thuộc về nhận thức! Đã bao giờ bạn viết một bài văn bằng chính ngôn ngữ, suy nghĩ, cảm xúc của mình? Đã bao giờ bạn đặt câu hỏi tra vấn với mong muốn kiểm nghiệm lại những kiến thức mà giáo viên truyền đạt, cung cấp? ... Nếu chưa thì bạn chưa phải là người độc lập trong tư duy!
Tâm lí đám đông cũng là những giới hạn trói buộc sự tự do của tư duy. Quốc gia nào và ở bất cứ thời nào cũng chịu những ảnh hưởng tiêu cực của tâm lí đám đông song ở Phương Đông, trong đó có nước ta, tâm lí đám đông là điển hình. Nền văn minh nông canh buộc con người phải sống quần tụ thành làng xã để cùng trị thủy, tưới tiêu, bảo vệ mùa màng. Điều này tạo nên những truyền thống yêu thương, đùm bọc, “tối lửa tắt đèn có nhau”, “bán anh em xa, mua láng giềng gần”. Thử tưởng tượng nếu không có truyền thống ấy, dân tộc này sẽ tồn tại thế nào khi thường xuyên phải đối mặt với thiên tai, địch họa? Tuy nhiên, nhìn ở một khía cạnh khác, điều đó cũng tạo nên một kiểu tâm lí lệ thuộc vào cộng đồng. Khi cần phải lựa chọn cái cá nhân hay cộng đồng, người ta thường đề cao sức mạnh cộng đồng: “Một cây làm chẳng nên non / Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Thế nên, không ai muốn suy nghĩ khác người trong một hoàn cảnh văn hóa đề cao cộng đồng. Nhiều tập quán đã biến thành hủ tục và không phải người ta không nhận ra nhưng ít ai dám tiên phong phá bỏ do tâm lí e dè kiểu “lội nước theo sau”. Đặc điểm này đã hạn chế một cách hiệu quả sự sáng tạo, ý thức đột phá. Thêm nữa, nền sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào tự nhiên lại là cái nôi của chủ nghĩa kinh nghiệm. Một nền văn hóa đề cao kinh nghiệm “trăm hay không bằng tay quen” tất yếu sẽ khiến con người ngại thay đổi, là nguồn gốc của biết bao sự trì trệ còn di căn đến ngày nay. Những gì đám đông đang làm, đang tin luôn tạo cho bạn vỏ bọc an toàn. Vì thế, mang tâm lí đám đông, người ta ngại thay đổi. Tâm lí đám đông có thể “chống đối những thay đổi và làm nản chí những cách tân” [2].  Nếu mua một chiếc smartphone, bạn có lựa chọn một sản phẩm đang được giới trẻ coi là “đẳng cấp” mà không cần tính đến tiện ích? Khi lựa chọn một quán ăn, bạn có từng chọn quán đông khách hàng mà không cần phải hỏi vì sao khách đông? ... Nếu có thì bạn vẫn còn là người lệ thuộc vào đám đông! Khi bàn về một sở thích, bạn đã từng dõng dạc bày tỏ quan điểm của mình, dù quan điểm ấy đang đi ngược với thói quen của cộng đồng, của tập thể? Trước một nếp nghĩ quen thuộc của cả một tập thể, bạn đã bao giờ đặt câu hỏi nếp nghĩ ấy đúng hay sai? Nếu chưa thì bạn vẫn còn là cây tầm gửi trong lĩnh vực tư duy!
Tư duy phản biện là tiền đề cho sự sáng tạo. Phản biện giúp bạn hiểu được bản chất của vấn đề, tránh được lối nhận thức kiểu học vẹt (Vì nếu chỉ học vẹt, bạn sẽ không thể trả lời được những câu hỏi “nghĩa là gì?”, “Vì sao?”, “Như thế nào?”,… bằng chính những gì bạn hiểu, bạn tin).
Tư duy phản biện giúp tạo ra cái nhìn đa chiều, cởi mở trước mỗi vấn đề. Người thiếu tư duy phản biện thường chỉ đứng từ một phương diện để nhìn nhận một vấn đề. Đó là cái nhìn phiến diện. Khi mang cái nhìn ấy, mọi suy nghĩ sẽ cứng nhắc, áp đặt, khó chấp nhận những ý kiến trái chiều, đặc biệt là khó tìm ra và phát triển những ý tưởng mới. Ngược lại, người có tư duy phản biện thường đứng từ nhiều góc độ để suy nghĩ, nhìn nhận về một vấn đề; biết chấp nhận cả những ý kiến, quan điểm đối lập. Đương nhiên, chấp nhận để tiếp nhận nó làm giàu cho trí tuệ của mình, bổ sung những lỗ hổng trong nhận thức của mình. Thay bằng tính cố chấp, bảo thủ, người có tư duy phản biện dám từ bỏ quan điểm của mình nếu quan điểm ấy không đủ cơ sở thuyết phục (khi được phản biện). Từ đó, hình thành những ý tưởng mới sáng tạo. Xét đến cùng, sáng tạo là sự chống lại công thức, là sự khắc phục những gì đã trở nên mòn sáo, là sự thay đổi những gì quen nhàm. Như đã nói ở trên, có những sự phản tỉnh làm sụp đổ cả một hệ giá trị. Tuy nhiên, sau sự sụp đổ ấy, con người lại kiến lập được những giá trị mới phù hợp với những đòi hỏi của cuộc sống. Tư duy phản biện sinh ra khoa học, nghệ thuật, tôn giáo và triết học. Sự kế tiếp nhau giữa các trào lưu triết học, nghệ thuật, các tư tưởng khoa học bắt nguồn phần lớn từ những ý tưởng phản biện. Hiểu như thế thì tư duy phản biện là nơi ươm mầm của cái mới, cái tiến bộ, là hạt nhân của những bước đột phá.
Tư duy phản biện giúp bạn trình bày một vấn đề, một ý kiến luôn thuyết phục, hấp dẫn. Thuyết phục bởi tính sáng rõ, chặt chẽ. Sáng rõ vì khi đã sở hữu tư duy phản biện, bạn luôn biết cách tìm lí lẽ, dẫn chứng cho những luận điểm, luận cứ. Chặt chẽ vì mọi nguyên tắc vận hành của tư duy phản biện dựa trên những suy luận logic. Hấp dẫn vì tư duy phản biện sẽ cho phép nhìn một vấn đề ấy dưới nhiều góc độ và có những ý kiến độc đáo; hấp dẫn bởi tư duy phản biện sẽ giúp bạn tìm kiếm những góc nhìn, xác định những quan niệm mới mẻ, không lẫn khuất vào đám đông. Một người thành thạo về tư duy phản biện khi viết một bài văn nghị luận sẽ biết cách giải thích tường minh vấn đề, dùng những lí lẽ để mổ xẻ, phân tích sâu vấn đề và đặc biệt, biết lật lại vấn đề bằng những góc nhìn ngược chiều.
Để có tư duy phản biện, bạn phải loại bỏ những vật cản của lí trí.
Chướng ngại thứ nhất cản trở nhận thức của bạn, có thể làm sụp đổ mọi tranh luận phản biện là cái tôi. Nói vậy nghĩa là bạn phải dẹp bỏ cái tôi. Trong tranh luận, cái tôi biểu hiện dưới nhiều hình thức nhưng đều có chung một mục đích là vì mình (vì lợi ích, danh dự cá nhân, vì tính hiếu thắng, lòng đố kị... của cá nhân). Trong thực tế, có rất nhiều cuộc tranh luận không có hồi kết. Ban đầu vốn chỉ đơn thuần là tranh luận học thuật nhưng càng về cuối càng trở nên cực đoan vì những người tham gia (do không muốn là kẻ thua cuộc) đã cố gắng tìm mọi lí do, thậm chí kể cả những lí do ngụy biện để khẳng định quan điểm của mình và phủ nhận những quan điểm đối lập. Để tránh hiện tượng này, cần tuân thủ nguyên tắc phản biện vấn đề chứ không phản biện con người; phản biện vì mục đích tìm kiếm sự thật, tìm kiếm những giải pháp tốt nhất chứ không vì mục đích thắng thua. Dẹp bỏ cái tôi cũng là gạt bỏ đi những yêu ghét, loại bỏ những định kiến. Trong nhiều trường hợp, đọc một cuốn sách, nghe một đề xuất, một bài diễn thuyết, bạn không phát hiện được những lỗi sai hoặc có phát hiện nhưng bỏ qua chỉ do yêu quý tác giả. Cũng có thể chỉ nhìn thấy lỗi sai của một cuốn sách, một bài thuyết trình do trong bạn có sẵn định kiến không tốt về tác giả. Trước khi tranh biện một vấn đề gì, dù với giáo viên hay trong thảo luận nhóm, hãy chắc chắn rằng, bạn hoàn toàn công tâm, khách quan. Bàn về nguyên tắc này không có nghĩa là khuyên bạn hạn chế cái tôi. Bởi nếu gạt đi cái tôi thì bạn không còn là mình. Thậm chí, bạn lại thuộc kiểu người mang tâm lí đám đông. Có gì mâu thuẫn trong cách diễn đạt ở đây chăng? Không hề mâu thuẫn chút nào. Khi cần diễn đạt một vấn đề gì, bạn cứ việc bộc lộ quan điểm của riêng mình. Khi thảo luận, bạn cứ việc chia sẻ cách nghĩ, phương pháp của riêng mình,... nhưng đừng cực đoan. Bởi bạn có thông minh, sắc sảo đến đâu cũng không thể biết tất và đúng hết trong mọi việc. Đó là một trong những lí do để chúng ta cần tư duy phản biện. Vả lại, cần phải phân biệt giữa quan điểm và tri thức. Tri thức thuộc về nhân loại, đòi hỏi tính đúng sai còn quan điểm thuộc về cá nhân hoặc nhóm người đòi hỏi được tôn trọng. Bạn thích văn của L. Tonxtôi không có nghĩa là những người tranh luận cũng phải thích L. Tônxtôi. Tôi không coi Michael Jackson là thần tượng như bạn nhưng tôi tôn trong quan điểm của bạn về thần tượng,…
Chướng ngại thứ hai là lối mòn của tư duy. Đó là tâm lí ngại thay đổi, là tâm lí đám đông, nghĩ theo số đông. Có nhà nghiên cứu nói về thơ Xuân Diệu rằng, ông đã phát hiện ra một “thiên đường trên mặt đất”. Đó là nhận định lột tả được một nét độc đáo của Xuân Diệu. Từ đó, cụm từ này được nhắc đến như một quy định bất thành văn trong các giờ học về thơ Xuân Diệu, trong các bài làm văn của học sinh khi viết về Xuân Diệu. Khi được nhắc đi nhắc lại nhiều lần theo tâm lí đám đông như vậy thì nó chỉ còn là một khẩu hiệu vô hồn, mòn sáo. Để tranh luận thực sự là tranh luận phản biện, không nên tư duy theo đám đông. Hãy độc lập suy nghĩ và diễn đạt ý kiến bằng ngôn từ của mình, như mình hiểu và đừng ngại thay đổi. Nếu cứ chấp nhận tư duy theo lối mòn, theo thói quen, theo đám đông thì khả năng sáng tạo của bạn sẽ bị tê liệt.

Tư duy phản biện không phải là hoài nghi nhưng hoài nghi là nhân tố kích hoạt tư duy phản biện. Có một giai thoại kể rằng, khi được con gái hỏi về câu châm ngôn yêu thích nhất, Karl Marx tỏ ra rất tâm đắc với câu “Hãy hoài nghi tất cả”. Hoài nghi là khái niệm trái nghĩa với tin tưởng. Thiếu hoài nghi cũng đồng nghĩa với sự cả tin một cách dễ dãi. Hoài nghi vừa là bước chân đầu tiên, vừa là động lực thôi thúc con người tìm kiếm sự thật. Trước một vấn đề nhận thức đã có, tâm lí hoài nghi thường nảy sinh khi bạn không biết người nêu vấn đề ấy dựa trên cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn nào và cơ sở ấy có đáng tin cậy hay không. Để hỗ trợ sự hoài nghi, có thể kết hợp với việc khai thác trực giác (với những người có khả năng trực giác tốt). Trực giác là một hiện tượng đặc biệt trong thế giới tinh thần của con người, vẫn là đối tượng nghiên cứu, giải mã của thần học và nhiều môn khoa học như Tâm lí học, Y học,... Trực giác là trạng thái tinh thần tạo cho con người cảm nhận về một sự vật, hiện tượng nào đó mà không thông qua lập luận, phân tích. Trực giác là những ấn tượng mạnh, những cảm giác khác thường về sự vật hiện tượng. Xét từ góc độ tâm lí học, trực giác là tiếng nói tiềm ẩn nằm ở giữa ý thức và tiềm thức. Trong nhiều trường hợp đặc biệt, tiếng nói ấy tạo nên những xung đột với ý thức của chúng ta. Có nhiều trường hợp, lí trí ta vẫn tin tưởng một điều gì đó là đúng nhưng cứ có một tiếng nói khác mơ hồ trong tâm trí khiến ta cảm thấy bất ổn. Trực giác thường xuất hiện dưới dạng những linh cảm, trực cảm, cảm giác ban đầu khi tiếp xúc với một đối tượng nào đó. Mặc dù khó có độ tin cậy về mặt khoa học nhưng nhiều khi, trực giác lại có những mách bảo chính xác hơn chúng ta tưởng. Vậy nên tận dụng trực giác như thế nào? Có nên tin vào trực giác hay không? Đương nhiên là không thể tin khi không có bằng cứ nhưng cũng không nên bỏ qua những cảm giác lạ chen ngang, xung đột với lí trí. Trước một nhận định, một tiền đề khoa học, một giả thuyết, nếu bất ngờ gặp một cảm giác như vậy, ta nên dừng lại và suy nghĩ về nó. Tĩnh tâm một chút khi những cảm giác ấy lớn dần và đó cũng là tác nhân làm gia tăng sự hoài nghi, là tiếng nói tự bên trong thôi thúc ta tìm kiếm sự thật. Tìm lời giải cho những thôi thúc của trực giác cũng chính là giải tỏa những hoài nghi của mình. Dù đúng hay sai thì đó cũng là một lần kiểm nghiệm, trải nghiệm nâng cao sự hiểu biết, để xác lập thêm những cơ sở khoa học.

Hoài nghi là khởi đầu cho tư duy phản biện nhưng tư duy phản biện chỉ đạt kết quả khi gắn với sự kiểm chứng. Khi đọc một cuốn sách, một bài báo khoa học, đánh giá một tập quán, ... chúng ta đều cần kiểm chứng, trừ khi đó không phải là vấn đề mà bạn quan tâm.
Muốn kiểm chứng, đầu tiên, bạn hãy thu thập thông tin tri thức xem xét hoàn cảnh ra đời của vấn đề. Xem xét hoàn cảnh ra đời của vấn đề, bạn sẽ thấy mọi thứ trên đời tồn tại đều có lí do. Có những quan niệm, những niềm tin mà ở thời hiện đại, chúng ta cho là sai lầm, là mê tín, là cần phải loại bỏ nhưng lại là chỗ dựa tích cực của cả một cộng đồng khi nó ra đời. Ngày nay, triết lí nhàn dật trong bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm có thể gần với một thái độ an phận, lánh đời. Nếu học theo một cách máy móc, sẽ mang lại cho bạn một thái độ sống buông xuôi, “thiếu tinh thần cố gắng”. Tuy nhiên nếu đặt vào hoàn cảnh xã hội nhiễu nhương ở thời tác giả sống thì đây là biểu hiện của một khí tiết cứng cỏi; dám từ bỏ chốn kinh kì phồn hoa nhưng phải sống trong bao thị phi, khuôn phép để trở về nơi thôn dã tự do tại tại. Theo Trạng Trình, nhàn là vui thú với cuộc sống điền viên, mặc cho ai đó say sưa hưởng lạc (Một mai một cuốc một cần câu / Thơ thẩn dầu ai vui thú nào); nhàn là nhận dại về mình, nhượng khôn cho người, xa lánh chốn triều chính tranh đua, tìm về nơi thôn dã thanh vắng, đứng ngoài vòng danh lợi (Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ / Người khôn người đến chốn lao xao); nhàn là thưởng ngoạn những thức có sẵn trong tự nhiên mà không cần mưu cầu, tranh đoạt, tự do tự tại (Thu ăn măng trúc đông ăn giá / Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao). Như vậy, việc xem xét hoàn cảnh ra đời của một vấn đề không chỉ tránh được lối phủ nhận một cách cực đoan mà còn có thể rút ra những kinh nghiệm, những giải pháp thú vị cho mỗi vấn đề. Sau khi xem xét hoàn cảnh ra đời, cần tìm những cơ sở để xem xét độ tin cậy của vấn đề được nêu ra. Nếu là một tư tưởng, quan niệm, một phát hiện, một thông tin... thì cần xem xét tác giả, người phát ngôn. Điều này rất có ý nghĩa. Lời khuyên về vệ sinh an toàn thực phẩm của một chuyên gia y tế thường đáng tin hơn (tuy không phải bất cứ khi nào) một người thợ cơ khí. Khái quát về nhân tình thế thái của một người “trải qua một cuộc bể dâu” sẽ có sức thuyết phục hơn một nông dân chỉ sống sau lũy tre làng. Tuy nhiên, việc xem xét tác giả chỉ là một căn cứ tham khảo chứ không đủ để khẳng định độ tin cậy của một vấn đề.
Bước tiếp theo, cần tìm những căn cứ của vấn đề được nêu. Tùy từng lĩnh vực, có rất nhiều căn cứ để khẳng định độ tin cậy của vấn đề. Càng có nhiều căn cứ thì việc đưa ra những đánh giá càng chính xác. Chẳng hạn, khi đọc một bài báo khoa học, bạn hãy tóm lược các thông tin khoa học được công bố. Tìm những cơ sở, những căn cứ để tác giả đưa ra thông tin và kiểm nghiệm độ tin cậy của các căn cứ ấy. Căn cứ đáng tin cậy là những căn cứ mang tính khoa học, có thể chứng minh bằng thực tiễn. Tóm lại, bạn cần phải đặt ra và giải quyết hàng loạt các câu hỏi: “Vấn đề này được khẳng định / phủ định dựa trên căn cứ nào? Căn cứ ấy có đáng tin cậy không? Vấn đề được nêu ra phù hợp với hoàn cảnh nào? Đúng trong trường hợp nào? Có ngoại lệ không? Tác giả của vấn đề đứng từ góc độ nào, lập trường của ai, chịu những chi phối nào về lợi ích khi nêu ra vấn đề? Nếu là quan niệm, thông tin này đúng thì nó có ý nghĩa gì với mục đích mà bạn đang theo đuổi?”... Bằng những câu hỏi theo hướng này, bạn sẽ đánh giá được giá trị của vấn đề phản biện.
Sau khi đã kiểm nghiệm mức độ tin cậy của những căn cứ, có thể rút ra kết luận theo những gì bạn biết. Trong trường hợp, nếu như những căn cứ không đáng tin cậy thì có nghĩa là ý kiến ấy chưa đủ độ tin cậy. Và như thế, bạn phải tìm kiếm những con đường khác, xác lập cách tiếp cận khác, bắt đầu từ những góc nhìn khác để nhận định lại vấn đề. Với một cuốn sách, một bài báo, có thể đặt ra và tìm kiếm lời giải cho câu hỏi “Tác giả đi đến kết luận ấy bằng phương pháp nào? Phương pháp tiếp cận ấy có thể đem đến một kết quả đáng tin cậy không?”. Nếu thấy phương pháp chưa đủ độ tin cậy, hãy thử sử dụng một phương pháp khác xem kết luận có trùng với tác giả không.
Tư duy phản biện không chỉ là tranh luận nhưng tranh luận là môi trường thích hợp để tư duy phản biện vận hành. Tranh luận phản biện gồm đặt câu hỏi phản biện ý kiến, trình bày ý kiến và trả lời phản biện, tổng hợp lựa chọn các giải pháp để giải quyết vấn đề. Trong tranh luận, thảo luận, bạn vừa là người đưa ra câu hỏi phản biện, đồng thời bạn cũng phải nêu ý kiến và trả lời câu hỏi phản biện của các thành viên khác. Hai vai này (phản biện và trả lời phản biện) luôn luân phiên nhau. Để phản biện một cách văn hóa, cần biết cách tiếp nhận ý kiến, quan điểm của những thành viên tham gia. Nghĩa là phải nắm được nội dung, mục đích của ý kiến, những giải pháp mà ý kiến nêu ra, dụng ý của người nêu ý kiến,... Muốn vậy, bạn không chỉ nghe mà còn phải lắng nghe. Lắng nghe là sự tập trung cao độ, là nghe có mục đích. Ở khâu này, bạn có thể gặp những trở ngại từ phía người nêu ý kiến. Không phải khi nào ngôn ngữ của người nêu ý kiến cũng được tường minh. Điều đó phụ thuộc vào sự hoạt ngôn, thái độ, dụng ý của người nói,.... Vì vậy, với những điểm chưa tường minh, cần đặt những câu hỏi để được giải thích, cắt nghĩa rõ ràng. Việc đặt câu hỏi có ý nghĩa rất lớn trong tranh biện. Cách đặt câu hỏi sẽ cho biết bạn là ai, bạn mong muốn điều gì, bạn có chú ý lắng nghe hay không. Công thức của đặt câu hỏi phản biện được các chuyên gia có uy tín đúc kết là “5 W và 1 H” (What, Where, When, Who, Why & How). Tuy nhiên, trong thực tế thì từng kiểu câu hỏi này thể hiện muôn vàn hình trạng tùy theo mục đích, ham muốn nhận thức của người hỏi. Sau khi đã nhận diện được ý kiến, hiểu dụng ý người phát biểu, tiếp tục đặt những câu hỏi để kiểm chứng tính đúng đắn, tính hợp lí, sức thuyết phục của các ý kiến. Những câu hỏi dạng này sẽ tập trung vào kiểm nghiệm tính logic của lập luận; tính khách quan, công tâm của những phát ngôn; mức độ tin cậy của các bằng chứng, dẫn chứng, thông tin. Ở mức độ cao hơn, hãy tưởng tượng và nêu ra những quan điểm đối lập với ý kiến, có tính “chống đối” để thử thách độ vững chắc của ý kiến được phản biện. Từ đó, phát hiện những điểm còn bất cập (nếu có) mà người nêu ý kiến chưa tính đến, bổ sung những giải pháp hoặc gợi ý những ý tưởng mới. Ở vai của người nêu ý kiến và trả lời các câu hỏi phản biện, bạn phải tự phản biện mình trước. Trước khi nêu ý kiến, hãy tưởng tượng mình là một người khác, thậm chí là người có quan điểm đối lập để phản biện, kiểm duyệt chính mình. Một ý kiến hoàn hảo là ý kiến trình bày nội dung một cách mạch lạc, sáng rõ, nhìn vấn đề từ nhiều góc độ. Mỗi luận điểm nêu ra đều được giải thích bằng các luận cứ, các lí lẽ logic, các dẫn chứng có độ tin cậy cao. Để trả lời phản biện một cách thuyết phục nhất, hãy lưu ý đến ý nghĩa của các câu hỏi. Ngoài việc trả lời phản biện, hãy mang tâm thế tiếp nhận những câu hỏi như những gợi ý để hình thành, bổ sung những ý tưởng mới. Kết thúc thảo luận, hãy cùng các thành viên tổng hợp phân loại các ý kiến theo nhóm dựa trên một tiêu chí nào đó (về nội dung, mục đích, giải pháp,...); đánh giá tính khả dụng, mức độ ảnh hưởng của từng nhóm ý kiến đến nhận thức, quan điểm, ý tưởng của bạn; chọn lựa, tìm ra các giải pháp phù hợp nhất để giải quyết những vấn đề đặt ra. Cũng cần lưu ý về những giới hạn của ngôn từ. Không phải khi nào ngôn từ cũng diễn đạt trọn vẹn mọi khía cạnh của tư duy. Vì vậy, hiểu trong tranh luận là hiểu ý tưởng của người trình bày. Hãy lấy ngôn ngữ làm căn cứ để hiểu ý chứ không dựa vào ngôn ngữ rồi bắt bẻ người tranh luận.
Tư duy phản biện không phải là xét lại mà là để đánh thức tiềm năng cá nhân, giúp mỗi cá nhân có một đời sống tinh thần độc lập, không bị cuốn vào tư duy theo số đông. Nó không phải là mục đích mà là phương tiện, là phương tiện để tìm kiếm chân lí, tìm kiếm giải pháp. Nó không chỉ là tư duy mà còn là nghệ thuật tư duy. Nó là tổng hợp của tất cả các thao tác tư duy khác. Vì để tìm ra sự thật, phát hiện tính ngụy biện, bạn cần phân tích, tổng hợp, cắt nghĩa, so sánh, đánh giá. Bạn sẽ không thể rèn được tư duy phản biện nếu thiếu khả năng đặt câu hỏi, khả năng phân tích, cắt nghĩa, tổng hợp,...
 


[1] Richard Paul & Linda Elder, Cẩm nang tư duy phản biện, Trang 9, NXB TH Tp Hồ Chí Minh 2015.
[2] John C. Maxwell, Tôi tư duy, tôi thành đạt, Trang 131, NXB Lao động  - Xã hội, 2015

Tác giả: Nguyễn Văn Thư 

[Trở về]

Album ảnh

Hoi thiHoi thiHoi thiHoi thiHoi thiNăm học mới 2018-2019Chào mừng 26 - 03Khai giảngChào mừng 26 - 03TrươnghfTrườngTrườngcổng trường

Video

Nhà Trường

Lễ kỷ niệm ngày nhà giáo Việt Nam 20/11/2020 Hòa trong không khí cả nước chào mừng ngày Nhà giáo Việt...
DƯ ÂM TỪ HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA, HỌC TẬP KINH NGHIỆM TẠI HÒA BÌNH Để nâng cao chất lượng dạy và học, thực hiện chủ trương...
Số Phức (Tiết1) Toán 12: Số Phức (tiết 1) Link chi tiết: https://www.youtube.com/watch?v=kW2cuHFjl5c

Thi THPT QG 2020

Làm các môn thi tổ hợp như thế nào? TTO - Từ hôm nay, Tuổi Trẻ mở Hộp thư tuyển sinh đồng thời...
Kỳ thi THPT quốc gia 2017: Trọng tâm ôn tập vào kiến thức lớp 12 Dân trí Bộ GD&ĐT yêu cầu các Sở GD&ĐT chỉ đạo các trường...
Thông tin tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy năm 2016 (cập nhật ngày 29/4/2016) THI THPT QUỐC GIA     Ngày 29/4/2016, Bộ Giáo dục và Đào tạo công...
Những lưu ý quan trọng trước khi làm hồ sơ đăng ký thi THPT quốc gia 2016   (Dân trí) - Xác định điểm bảo lưu như thế nào?, thí...

Tin Tức - Sự Kiện

LỄ TRAO HỌC BỔNGSAMSUNG 2020 “CHẮP CÁNH ƯỚC MƠ” Sáng  27- 12- 2020, Hội Khuyến học tỉnh Bắc Giang phối hợp...
VẬN DỤNG TƯ DUY PHẢN BIỆN TRONG TÌM KIỂM TRI THỨC Bạn có thường xuyên đặt câu hỏi kiểm nghiệm tính đúng sai...
Sử dụng mạng xã hội đúng luật, hiệu quả, văn minh Luật an ninh mạng được thông qua ngày 12/6/2018, kể từ ngày...
DƯ ÂM TỪ HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA, HỌC TẬP KINH NGHIỆM TẠI HÒA BÌNH Để nâng cao chất lượng dạy và học, thực hiện chủ trương...

Thống kê